Tính dân tộc trong bài Việt Bắc của Tố Hữu – Ngữ Văn 12

22

Tính dân tộc trong bài Việt Bắc của Tố Hữu đã cho thấy một hồn thơ cách mạng đồng thời cũng thể hiện được tình cảm, khát vọng và ý chí của một dân tộc. Trong bài viết dưới đây, hãy cùng 1meo.com tìm hiểu, cảm nhận và phân tích về tính dân tộc trong bài Việt Bắc của Tố Hữu.

Mở bài: Điệu hồn dân gian là một nét đẹp mang đậm tính truyền thống văn hóa của dân tộc. Bên cạnh đổi mới theo các khuynh hướng văn học phương tây, các nhà văn, nhà thơ Việt Nam còn tìm về với nguồn cội đất nước. Đó là Nguyễn Duy, Nguyễn Khoa Điềm, Tố Hữu. Cùng vận dụng chất liệu dân gian nhưng chất liệu dân gian ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của thi nhân. Ta bắt gặp sự đơn sơ mộc mạc nhưng có chứa đựng chất hoài niệm, một chút “ngông” rất riêng của Nguyễn Duy. Và ta cũng gặp bắt sự bình dị ấy trong từng vần thơ cách mạng nhiệt huyết máu lửa của Tố Hữu. Chất dân tộc ấy được thể hiện rõ nét trong Việt Bắc.

Đôi nét về tác giả Tố Hữu và bài thơ Việt Bắc

Trước khi tìm hiểu và phân tích cụ thể về tính dân tộc trong bài Việt Bắc của Tố Hữu, chúng ta cần nắm được những nét chính về tác giả cũng như tác phẩm.

Giới thiệu về Tố Hữu

Tố Hữu (1920-2002) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, sinh năm 1920 tại Thừa Thiên – Huế. Ông xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo, mồ côi cha mẹ năm 12 tuổi.

Bước vào những năm thanh niên, ông tham gia phong trào đấu tranh cách mạng và trở thành người lãnh đạo chủ chốt của Đảng Thanh niên Dân chủ ở Huế, rồi được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cuối tháng 4 – 1939 bị giặc bắt. Tháng 3 – 1942 ông vượt ngục, tiếp tục hoạt động Cách mạng.

Cách mạng Tháng tám năm 1945, ông là Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa ở Huế. Trong hai cuộc kháng chiến và cho đến năm 1986, ông liên tục giữ những cương vị trọng yếu trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

Nhắc đến Tố Hữu, người ta thường nghĩ đến sự nghiệp chính trị, hoạt động cách mạng, nhưng người ta còn quên mất ông còn là một nhà thơ dùng ngòi bút của mình làm vũ khí chiến đấu.

Tìm hiểu về bài thơ

Bài thơ Việt Bắc đã được lấy làm tên chung cho cả tập thơ Việt Bắc – một đỉnh cao của thơ Tố Hữu. Tác phẩm cũng là một sáng tác xuất sắc của thơ ca Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp.

Khi phân tích tính dân tộc trong bài Việt Bắc, ta thấy đoạn trích mở đầu phần một, trích trong tập thơ Việt Bắc (1946-1954). Đây là tiếng ca hùng tráng, thiết tha về cuộc kháng chiến chống Pháp; là một đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là một sáng tác xuất sắc của thơ ca Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp.

Qua tác phẩm, nhà thơ đã ca ngợi những con người kháng chiến rất bình thường nhưng anh hùng, khẳng định vai trò của Đảng và Bác Hồ, thể hiện những tình cảm lớn. Bởi vào tháng 10 – 1954, các cơ quan. Trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội.

Nhân sự kiện thời sự có tính lịch sử ấy và cảm xúc trực tiếp từ sự chia tay trong lưu luyến ân tình giữa Việt Bắc với người chiến sĩ cách mạng, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ này. Bài thơ kết thúc bằng khí thế chiến thắng hào hùng, biết bao tình cảm bồi hồi, xúc động của dân tộc trong giờ phút lịch sử.

Tìm hiểu tính dân tộc là gì?

Tính dân tộc trong bài Việt Bắc sẽ được cảm nhận tốt hơn khi ta nắm được định nghĩa thế nào là tính dân tộc. Tính dân tộc là thước đo giá trị cũng là một đặc tính trong một tác phẩm văn học. Những tác phẩm văn học lớn từ xưa đến nay đều mang tính nhân loại lại vừa mang tính dân tộc sâu sắc.

Trong văn học, tính dân tộc được thể hiện ở cả nội dung cũng như hình thức nghệ thuật. Về nội dung, một tác phẩm mang tính dân tộc phải thể hiện được những vấn đề nóng bỏng liên quan đến vận mệnh dân tộc, đồng thời thể hiện tình cảm, khát vọng và ý chí của một dân tộc. Về hình thức, tác phẩm giàu tính dân tộc đó tiếp thu một cách sáng tạo tinh hoa văn hóa của dân tộc. Với cách hiểu trên thì thơ Tố Hữu mang phong cách nghệ thuật đậm đà bản sắc dân tộc.

Những biểu hiện của tính dân tộc trong thơ Tố Hữu

Trong quá trình phân tích tính dân tộc trong bài Việt Bắc, ta thấy Tố Hữu đã sử dụng một cách điêu luyện các thể thơ dân tộc trong những tác phẩm của mình. Thể loại lục bát được nhà thơ sử dụng thành công và được xem là thể loại sở trường của Tố Hữu. Trong cuộc đời cầm bút của mình, ông đã có những tác phẩm xuất sắc đậm tính dân tộc như: Việt Bắc, Kính gửi cụ Nguyễn Du, Khi con tu hú, Bài ca quê hương…

Tố Hữu còn thành công với thể thơ song thất lục bát: Điển hình như bài thơ dài Ba mươi năm đời ta có Đảng làm người đọc nhớ đến những câu thơ trong Đại Nam quốc sử diễn ca.

Nhà thơ cách mạng ấy còn sử dụng thành công các thể thơ bảy chữ và bốn chữ như: Bác ơi! Theo chân Bác hay Lượm…Không những thế, nhà thơ còn có biệt tài trong việc sử dụng những hình tượng quen thuộc trong thơ ca dân tộc.

Phân tích tính dân tộc trong bài Việt Bắc của Tố Hữu

Về phương diện nội dung

Tính dân tộc trong bài Việt Bắc được thể hiện qua cả giá trị nội dung và nghệ thuật. Ở góc độ nội dung, tính dân tộc trong bài Việt Bắc thể hiện qua những tình cảm lớn với con người cũng như bức tranh thiên nhiên nơi Việt Bắc. Tình cảm thể hiện trong bài thơ bên cạnh nghĩa tình cách mạng sâu đậm của thời đại mới – tình cảm dành cho Đảng, cho Bác thường thấy trong thơ ca viết về kháng chiến, còn là sự hòa nhập và tiếp nối vào nguồn mạch những đạo lí ân tình thủy chung truyền thống của dân tộc.

Điều này thể hiện qua cảnh chia tay đầy lưu luyến, qua hình ảnh người Việt Bắc tuy khó khăn về vật chất nhưng giàu tình nghĩa, tràn đầy lạc quan, tin tưởng. Cảnh chia tay đầy lưu luyến giữa người cán bộ về xuôi và người Việt Bắc

“Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn”

Được xây dựng dựa trên nỗi nhớ, tác giả đã hóa thân vào nhân vật trữ tình – người cán bộ về xuôi để nhớ lại quá khứ nghĩa tình. Từ đó, bộc lộ sự biết ơn, nhớ thương của nhân dân, cách mạng kháng chiến. Tố Hữu tại hiện nỗi nhớ thông qua cảnh chia tay. Khung cảnh ấy hiện lên đầy bịn rịn, đau đớn cũng như tiếc thương. Hai nỗi nhớ của người ra đi và người ở lại.

Xem thêm:  Tổng quan về khu vực Tây Nam Á: Vị trí địa lý và Đặc điểm kinh tế-dân cư-chính trị

Mỗi nỗi nhớ mang một sắc thái khác nhau. Nỗi nhớ của người ra đi dường như nhẹ nhàng hơn. Vì họ ra đi nhưng trở về với gia đình, với sự nghiệp hoài bão của mình. Còn người ở lại mang một nỗi nhớ sâu đậm hơn. Bởi lẽ sau cuộc chia tay này, họ sẽ khó có thể gặp lại nhau.

Chính vì điều đó mà tác giả đã để cho người ở lại cất tiếng trước. Nỗi nhớ bật lên thành lời ướm hỏi: Liệu sau này ta còn nhớ nhau. “Mười lăm năm” chính là mười lăm năm cùng nhau gắn bó san sẻ biết bao vui buồn. Khoảng thời gian ấy đã để lại một ký ức sâu nặng trong lòng mỗi người. Tác giả dùng cặp đại từ xưng hô quen thuộc “mình – ta” nhằm thể hiện tình cảm gắn bó sâu nặng, khăn khít giữa Việt Bắc và người cán bộ cách mạng, khái quát lại một giai đoạn lịch sử gian khổ gắn với Việt Bắc, đồng thời khắc sâu tình cảm “thiết tha mặn nồng” trải dài theo năm tháng.

Phân tích tính dân tộc trong bài Việt Bắc, người đọc nhận thấy “Cây – núi – sông – nguồn” là những hình ảnh thể hiện đặc trưng của Việt Bắc. Các hình ảnh sóng đôi từng cặp, kết cấu lặp – trùng điệp gợi lên một tình cảm gắn bó giao hòa. “Núi”“nguồn” là cội nguồn của thiên nhiên, gợi nhớ đến cội nguồn của kháng chiến – Việt Bắc. Các từ “thiết tha”,“mặn nồng” thể hiện bao ân tình gắn bó. Chiến thắng hôm nay có được từ nền tảng của quá khứ. Điệp từ “nhớ” xuất hiện cùng với những lời nhắn nhủ của người Việt Bắc “mình có nhớ ta”, “mình có nhớ không”. Những lời nhắn nhủ cất lên tha thiết xoáy sâu vào tâm can.

“Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi”

Đại từ phiếm chỉ “ai” tưởng chừng mông lung vô định nhưng lại hướng đến một đối tượng xác định. Đó là người ở lại. Nếu ở bốn câu thơ trên người ở lại “thiết tha” thì giờ người ra đi lại “tha thiết”. Từ láy “bâng khuâng” gợi một tâm trạng cảm xúc mơ hồ xao động. Quyến luyến nhẹ nhàng nhưng man mác.

Lòng “bâng khuâng” nên bước đi “bồn chồn”. Từng bước chân như ngập ngừng nửa muốn đi nửa lại muốn ở. Lời người đi đáp lại cho người ở lại. Tiếng lòng đáp trả tiếng lòng. Hồi ức được thể hiện qua tiếng hát chia ly.

“Áo chàm đưa buổi phân ly

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

Phân tích tính dân tộc trong bài Việt Bắc, ta thấy nghệ thuật hoán dụ “áo chàm” gợi hình ảnh người Việt Bắc. Màu áo quen thuộc của đồng bào Việt Bắc, màu bền chặt của nghĩa tình chung thủy, xuất hiện như để nói rằng ngày chia tay cán bộ kháng chiến về xuôi cả nhân dân Việt Bắc cùng đưa tiễn. Tuy không trực tiếp trả lời câu hỏi của người ở lại nhưng tâm trạng “bâng khuâng”, “bồn chồn” cùng cử chỉ “cầm tay nhau” đã nói lên cảm xúc sâu lắng ấy.

“Cầm tay nhau không biết nói gì” có lẽ không còn gì để nói. Bởi họ đã thấu hiểu nên chỉ cần ánh mắt, cái nắm tay đã thay cho lời nói. Không khí im lặng lúc này thật đáng quý biết bao. Câu thơ bỏ lửng, ngập ngừng đã diễn tả chân thực thái độ xúc động, nghẹn ngào khi phải giã từ Việt Bắc về xuôi.

Phân tích tính dân tộc trong bài Việt Bắc, ta thấy nhịp thơ ở đây cũng là chính là nhịp điệu của tâm hồn. Thoáng chút ngập ngừng, bồn chồn nhớ thương bịn rịn. Cuộc chia tay lịch sử còn là cuộc chia tay giữa cá nhân với cá nhân, giữa người lính và nhân dân vùng núi rừng. Cái riêng cùng cái chung hài hòa, đan xen vào nhau một cách khéo léo.

Những kỷ niệm ngày xưa hiện về. Đó chỉ là những kỷ niệm về những gian nan vất vả những đằm thắm nghĩa tình. Cuộc sống đơn sơ bình dị nhưng lại đáng quý biết bao.

“Mình đi có nhớ những ngày

Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù

Mình về có nhớ chiến khu

Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai

Mình về, rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng, măng mai để già

Mình đi, có nhớ những nhà

Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son”

Giọng thơ vừa hỏi han vừa gợi nhớ theo thời gian, lan tỏa theo không gian những kỉ niệm ngày đầu cách mạng. Không gian, địa điểm thể hiện từ mờ xa “mưa nguồn, suối lũ, mây mù” đến gần gũi, xác định: “chiến khu”; rồi gợi lên sức mạnh tranh đấu khi “kháng Nhật”; trải ra mênh mang với sự trải dài của không gian.

“Mình về rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng măng mai để già”

đầy xúc động, như thể thiên nhiên cũng mang nỗi nhớ thiết tha hòa với lòng người ở lại. “Trám, măng” – thức ăn trong ngày thiếu thốn giờ không còn cần nữa, không còn ý nghĩa khi người đã ra đi. Câu thơ giản dị mà gợi ra mênh mông biết bao trống vắng. Rừng núi nhớ ai hay chính người dân Việt Bắc đang nhớ mong.

Khi phân tích tính dân tộc trong bài Việt Bắc, người đọc dễ dàng nhận thấy với cách nói đảo ngữ, tương phản đối lập “hắt hiu lau xám – đậm đà lòng son” càng làm bật lên ân tình cách mạng. Càng khổ cực, gian lao – bát cơm chấm muối, hắt hiu lau xám càng ngọt bùi bao kỉ niệm, đậm đà những tấm chân tình trao gửi cho nhau. Nghệ thuật nhân hóa (rừng núi nhớ ai), hàng loạt điệp tự “mình, có nhớ”, nhịp ngắt đều đặn kết hợp cùng bao nhiêu hoài niệm tha thiết nhất đều mang đến những tác dụng nhất định.

Nó thể hiện nguồn cội tình cảm sâu rộng nhất tập trung khắc họa hình ảnh một người đang bâng khuâng thương nhớ với cảm giác chưa nguôi lưu luyến trong phút chia li này

Bức tranh về con người còn hiện ra trong khúc hát của nỗi nhớ

“Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về

Nhớ từng rừng nứa bờ tre

Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy

Ta đi ta nhớ những ngày

Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi”

Âm thanh gợi một cuộc sống đầm ấm yên vui trù phú nhộn nhịp của chiến khu Việt Bắc tuy Việt Bắc là chiến khu kháng chiến nhưng cuộc sống thanh bình vẫn hiện lên bên cạnh hoạt động của nhân dân. Hiện về trong kí ức của nhân vật trữ tình là không gian bao la rộng lớn. Từ căn nhà sàn đến những nương rẫy bạt ngày từ lớp học vỡ lòng đến cơ quan, từ con suối đến cối giã trong đêm khuya.

Khi phân tích tính dân tộc trong bài Việt Bắc, người đọc nhận thấy đặc điểm nổi bật trong đoạn thơ này chính là âm thanh của núi rừng của chiến khu Việt Bắc. Đó là tiếng đọc bài ê a, là lời ca tiếng hát, tiếng trò chuyện liên hoan còn là tiếng của cuộc sống lao động- tiếng mõ đuổi trâu về, tiếng chày cối giã gạo. Nếu chỉ đọc đoạn thơ, người đọc khó nhận ra đây là một vùng đất khó khăn, phải từng giây từng phút chiến đấu với kẻ thù.

Xem thêm:  Cuộc khởi nghĩa Bà Triệu (năm 248): Nguyên nhân, Diễn biến, Ý nghĩa

Điệp ngữ “nhớ sao” không chỉ có giá trị gợi nhắc, liệt kê nỗi nhớ mà còn tô đậm nỗi nhớ cồn cào, mãnh liệt không sao quên được. Chứng tỏ tấm lòng sâu nặng đối với Việt Bắc, nhân dân Việt Bắc. Tác giả nói về lý tưởng cách mạng, về quá trình đấu tranh gian khó ấy bằng một cách nói giàu cảm xúc.

Nhắc đến Việt Bắc không thể không nhắc đến bức tranh thiên nhiên tứ bình bốn mùa

“Ta về mình có nhớ ta

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve keo rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

Khi phân tích tính dân tộc trong bài Việt Bắc, ta nhận ra thiên nhiên bốn mùa tươi đẹp hiện ra qua từng cặp câu lục bát. Mở đầu bức tranh tứ bình là mùa đông. Nhưng mùa đông không u ám mà lại tươi đẹp đến lạ.

“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”

Câu thơ “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi” mở ra một không gian rộng lớn. Nghệ thuật điểm xuyết trong câu thơ đã đem lại hiệu quả ấn tượng khi làm hiện ra sống động trước mắt người đọc màu đỏ ấm áp, có sức lan tỏa của hoa chuối giữa bạt ngàn xanh của núi rừng.

Câu thơ sau cũng như vậy, hình ảnh điểm xuyết nổi rõ hơn khung cảnh, điểm rất nhỏ nhưng sức gợi vô cùng lớn. Sự lấp lánh của ánh dao phản chiếu sắc nắng khiến cảnh vật vốn tĩnh lặng, thậm chí tịch mịch bỗng sinh động với vẻ đẹp khỏe khoắn, mạnh mẽ của con người lao động. Tiếp đến là bức tranh thiên nhiên của màu xuân.

“Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”

Mùa xuân không hiện ra với màu vàng của hoa mai, màu hồng của hoa đào mà hiện ra với màu trắng. Màu trắng tinh khiết của hoa mơ trở thành sắc màu chủ đạo của khu rừng màu xuân nên thơ. Thời gian được đưa lên đầu câu thơ tạo cho ta cảm giác màu trắng lan khắp thời gian và không gian.

Cách điệp âm “mơ – nở” cùng với sự rộn ràng, náo nức của thiên nhiên khi xuân đến. Màu trắng của hoa hòa với màu trắng của sợi giang trên tay người đan nón tạo nền cho con người hiện lên với vẻ đẹp giản dị mà tinh tế.

“Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình’

Câu thơ đầu vừa có âm thanh rộn rã, vừa có màu sắc rực rỡ của núi rừng Việt Bắc. Hai yếu tố ấy đã tạo nên cảnh tưng bừng của thiên nhiên: màu vàng của rừng phách hòa cùng tiếng ve xao động – đặc trưng của mùa hè cộng hưởng cùng tín hiệu của mùa hè được thể hiện đầy ấn tượng, có gì đó bất ngờ xôn xao khó tả. Phân tích tính dân tộc trong bài Việt Bắc, ta thấy hình ảnh con người “hái măng một mình” thêm một lần nữa là vẻ đẹp trong sự thầm lặng và cần mẫn với công việc. Trong chuỗi hoài niệm của tác giả, hình ảnh ấy là một nét gợi nhớ sinh động và đầy xúc cảm.

“Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung’

Bức tranh mùa thu với ánh sáng dịu nhẹ, huyền ảo, gợi không khí thanh bình, yên ả. Và kết lại cũng chính là hình ảnh con người thể hiện qua tiếng hát ngọt ngào dưới ánh trăng mang theo bao ước mơ tốt lành, tươi đẹp và tình cảm thiết tha ân tình, son sắt gắn bó với cách mạng.

Phân tích tính dân tộc trong bài Việt Bắc, người đọc nhận thấy tác giả đã chọn lọc phác họa hình ảnh những con người lao động tuy xuất hiện thấp thoáng nhưng đầy sức gợi. Đó là hình ảnh người đi rẫy, người đan nón, hái măng, một tiếng hát khi lao động hay trong một đêm sinh hoạt văn nghệ. Nỗi nhớ khi thì hướng đến một đối tượng cụ thể “nhớ người đan nón”, “nhớ cô em gái”, khi thì hướng về một đối tượng chung chung “nhớ ai tiếng hát” song lại chứa chan niềm nhớ thương về những bóng hình gần gũi thiết thân, về những con người lao động cần cù, có tấm lòng son sắt thủy chung với cách mạng. Trong mỗi khung cảnh thiên nhiên, khung cảnh sinh hoạt con người đều chan chứa tình cảm, kỷ niệm.

Về phương diện nghệ thuật

Tính dân tộc trong bài Việt Bắc không chỉ thể hiện ở phương diện nội dung mà nó được khắc họa rõ nét hơn ở phương diện nghệ thuật. Trước tiên, tinh thần dân tộc thể hiện ở cách dùng thể thơ dân tộc – thể thơ lục bát. Thể thơ lục bát, thấm đẫm một tình thần dân tộc từ ngàn đời. Đó là điệu hồn của biết bao câu ca dao, dân ca của người dân lao động

“Thân em như tấm lụa đào

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”

(Ca dao)

Chất giản dị dân dã đó còn được các tác giả trung đại như Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu,… Tố Hữu đã sử dụng lại thể thơ của dân tộc trong tác phẩm lớn của mình. Thể thơ lục bát đã được vận dụng nhuần nhuyễn, vừa thống nhất trong một bài thơ dài vừa biến hóa đa dạng với những câu thơ dung dị, dân dã gần với ca dao mà vẫn cân xứng, nhịp nhàng, trau chuốt mà trong sáng, nhuần nhị. Đây cũng là một dẫn chứng cụ thể về tính dân tộc trong bài Việt Bắc.

Khi phân tích tính dân tộc trong bài Việt Bắc, ta cũng thấy nhiều hình ảnh ước lệ quen thuộc của ca dao, dân ca được Tố Hữu sử dụng rất thích hợp với khung cảnh và tâm trạng trong bài “Việt Bắc”, như “Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”, “Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu”, “Nước trôi lòng suối chẳng trôi”, “Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn”,…. Chất liệu văn học dân gian được vận dụng phong phú, đa dạng, đặc biệt là ca dao trữ tình. Như kết cấu “bao nhiêu…bấy nhiêu” ta đã từng bắt gặp trong câu ca dao

“Ngó lên nuộc lạt mái nhà

Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu”

Hay điệp khúc “nhớ” của Tố Hữu cũng gợi cho người đọc đến những câu ca dao về nỗi nhớ trong tình yêu.

“Nhớ ai bổi hổi bồi hồi

Như đứng đống lửa như ngồi đống than”

(ca dao)

“Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ

Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai”

(ca dao)

Trong câu thơ đầy mạnh mẽ khi tác giả tả đoàn dân công

“Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”

có âm hưởng từ câu ca dao “Trông cho chân cứng đá mềm”. Ngoài ra, việc sử dụng những cách diễn đạt giàu hình ảnh, nghệ thuật hô ứng như “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng – Tiếng ai tha thiết bên cồn” hay “Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn – Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu”, các cách chuyển nghĩa truyền thống – so sánh, ẩn dụ, tượng trưng, ước lệ, đã được sử dụng thích hợp, tạo nên phong vị dân gian và chất cổ điển của bài thơ.

Xem thêm:  Biện pháp tu từ là gì? Những biện pháp tu từ thường gặp

Phong vị ấy còn thể hiện ở cách dùng lối kết cấu đối đáp quen thuộc trong ca dao, dân ca.

“Bây giờ mận mới hỏi đào

Vườn hồng đã có ai vào hay chưa

Mận hỏi thì đào xin thưa

Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào”

Hay

“Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng

Tre non đủ lá đan sàng nên chăng

Chàng hỏi thì thiếp xin vâng

Tre vừa đủ lá non chăng hỡi chàng.”

(ca dao)

Tính dân tộc trong bài Việt Bắc không chỉ là lời hỏi, lời đáp như trong ca dao giao duyên mà còn là sự hô ứng, đồng vọng. Lời đáp không chỉ nhằm giải đáp cho những điều đặt ra của lời hỏi mà còn là sự tán đồng, mở rộng, cụ thể và phong phú thêm những ý tình trong lời hỏi, có khi trở thành lời đồng vọng ngân vang những tình cảm chung.

Thực ra, bên ngoài là đối đáp, còn bên trong là độc thoại, là sự biểu hiện tâm tư tình cảm của chính nhà thơ, của những người tham gia kháng chiến đang đắm mình trong hoài niệm ngọt ngào hạnh phúc về quá khứ đẹp đẽ với nghĩa tình thắm thiết – tình nghĩa nhân dân, nghĩa tình kháng chiến và cách mạng, khát vọng về tương lai tươi sáng. Kẻ ở – người đi, lời hỏi – lời đáp ở đây có thể xem là một cách “phân thân” để tâm trạng được bộc lộ đầy đủ hơn trong sự hô ứng, đồng vọng, vang ngân.

Ngoài ra, tính dân tộc trong bài Việt Bắc còn thể hiện ở chất liệu dân gian trong cách dùng từ “mình”, “ta”. Trong tiếng Việt, từ “mình” là chỉ bản thân (ngôi thứ nhất), nhưng cũng còn để chỉ đối tượng giao tiếp thân thiết, gần gũi – chỉ người bạn đời yêu mến (ngôi thứ hai), thường là chỉ dùng trong các quan hệ tình yêu, vợ chồng.

Trong bài thơ Việt Bắc, “mình” chủ yếu được dùng ở nghĩa thứ hai này. Điều đó phù hợp và tạo nên quan hệ gắn bó của hai nhân vật đối đáp. Nhưng có chỗ lại là chỉ ngôi thứ nhất và có những lúc biến hóa, chuyển hóa đa nghĩa, vừa là chủ thể, vừa là đối tượng, hòa nhập làm một như trong các câu: “Mình đi, mình có nhớ mình” và “Mình đi, mình lại nhớ mình”.

Câu thơ “Mình đi mình lại nhớ mình” như một lời khẳng không bao giờ đánh mất những tình cảm quý giá một thời đã qua. Sự hoán đổi vị trí “mình – ta” thể hiện tình cảm quấn quýt, hòa quyện, gắn bó, sâu nặng, bền chặt; đồng thời củng cố niềm tin cho người ở lại. Ta cũng có thể thấy sự chuyển nghĩa ở đại từ “ta”. Trong bài thơ, “ta” là ngôi thứ nhất, người phát ngôn, nhưng “ta” trong nhiều trường hợp là chỉ chung hai người, chỉ “chúng ta” như trong những câu ca dao “Mình về mình lại nhớ ta”, “Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây”.

Hai nhân vật “mình – ta” thực chất chỉ là sự phân thân của một cái trữ tình thống nhất. Lời đáp không chỉ nhằm giải đáp cho những điều đặt ra của lời hỏi mà còn là sự tán đồng, mở rộng, làm cụ thể và phong phú thêm những ý tình trong lời hỏi, có khi trở thành lời đồng vọng, không phân biệt người hỏi, người đáp, cùng ngân vang những tình cảm chung. Cách xưng hô thân tình, tha thiết ấy cũng là minh chứng điển hình về tính dân tộc trong bài Việt Bắc.

Đánh giá tác phẩm khi phân tích tính dân tộc trong bài Việt Bắc

Khi phân tích tính dân tộc trong bài Việt Bắc, ta nhận thấy Tố Hữu đã vận dụng thành công các yếu tố của văn học dân gian từ thể loại đến chất liệu dân gian như hình ảnh, cấu trúc, từ ngữ. Nhưng ông không dùng một cách rập khuôn mà vận dụng một cách sáng tạo, thổi hơi thở mới vào những thi liệu dân gian. Cái chất dân tộc mộc mạc ấy đã góp phần thể hiện thành công nội dung của bài thơ khiến cho lời thơ như tiếng hát cất lên từ sâu thẳm tâm hồn nhà thơ. Chính vì thế, những vần thơ của Tố Hữu dễ dàng đi vào lòng người đọc. Chất dân tộc ấy len lỏi vào từng câu thơ tạo nên một dấu ấn riêng cho sáng tác của Tố Hữu – vừa bình dị vừa đậm chất suy tư, chiều sâu.

Kết bài: Chất dân gian thấm đẫm tinh thần dân tộc ấy đã phát huy tối ưu vai trò của mình tạo nên những vần thơ nhẹ nhàng như những câu hát ca dao, như lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân cần lao. Việt Bắc là một bản tổng kết của một giai đoạn lịch sử chống Pháp đầy khó khăn nhưng oai hùng của một dân tộc anh hùng. Nhưng bản tổng kết ấy không liệt kê chiến công, không phải những lời lẽ tổng kết khô khan mà bản tổng kết ấy được viết lên bằng nhạc điệu của tâm hồn. Trang thơ đã khép nhưng vẫn để lại dư âm sâu lắng cho người đọc.

Hy vọng với những phân tích về tính dân tộc trong bài Việt Bắc đã cung cấp cho bạn những kiến thức hữu ích phục vụ quá trình học tập. Chúc bạn luôn học tốt!

Dàn ý phân tích tính dân tộc trong bài Việt Bắc

Mở bài tính dân tộc trong bài Việt Bắc

  • Giới thiệu chủ đề dân tộc trong thi ca.
  • Giới thiệu tác giả, tác phẩm.

Thân bài tính dân tộc trong bài Việt Bắc

Giải thích tính dân tộc là gì?

Phân tích tính dân tộc trong bài Việt Bắc

Qua nội dung

  • Tính dân tộc trong bài Việt Bắc được thể hiện qua ngôn ngữ thuần Việt, giản dị, dễ thuộc, dễ nhớ cùng với hình ảnh thơ gần gũi đời thường nhiều sức gợi.
  • Bên cạnh đó, tính dân tộc trong bài Việt Bắc còn được thể hiện qua tình yêu thiên nhiên con người Việt Bắc sâu nặng nghĩa tình. Tất cả những tình cảm đó đều hướng về Lãnh tụ kính yêu và công ơn của Đảng.

Qua nghệ thuật

  • Tố Hữu đã sử dụng thành công thể thơ lục bác vừa cổ điển, vừa dân dã, lại vừa hiện đại.
  • Tác giả đã vận dụng thành công những lời ăn, tiếng nói giản dị của nhân dân trong đời sống và ca dao.
  • Giọng thơ trong Việt Bắc tâm tình, ngọt ngào và tha thiết.

Nhận xét khi phân tích tính dân tộc trong bài Việt Bắc

Tính dân tộc là một đặc điểm nổi bật của tác phẩm. Khi phân tích tính dân tộc trong bài Việt Bắc, ta nhận thấy chính đặc điểm này đã tạo nên sự hấp dẫn của bài thơ. Tính dân tộc ấy đã giúp tác giả chuyển tải được tư tưởng hiện đại và tiên tiến. Đây là một trong những tác phẩm thành công nhất của nhà thơ. Như vậy, khi phân tích tính dân tộc trong bài Việt Bắc, ta thấy tác phẩm này vừa mang tinh thần và tư tưởng của thời đại vừa mang nét đẹp của dân tộc.

Theo 1meo.com

Loading...

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here