Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy – Ngữ Văn lớp 9

22

Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy để thấy ánh trăng ở đây không chỉ là một hình ảnh cụ thể của đất trời mà còn là biểu tượng cho một quá khứ đẹp đẽ, là mối liên hệ giữa tâm tình riêng và ý nghĩa rộng lớn. Bên cạnh đó, bài thơ còn là một lần “giật mình” của chính tác giả và cũng là lời thức tỉnh với bao người ở cuộc sống hiện đại. Trong bài viết sau, hãy cùng 1meo.com tìm hiểu, cảm nhận và phân tích bài thơ Ánh trăng!

Mở bài: Chiến tranh đã qua đi, con người bắt đầu sống hòa nhập và xây dựng cuộc sống mới. Có thể nói bấy nhiêu năm chiến tranh đi qua đã đủ để nhìn nhận và đánh giá trọn vẹn sự thiêng liêng của hai tiếng “hòa bình”. Thế nhưng ở cuộc sống yên bình thì vẫn diễn ra những cuộc chiến âm thầm nhưng không kém phần khốc liệt bên trong mỗi con người. Cuộc chiến không có súng đạn, không có máu đỏ ấy nhưng lại trải dài trải dài… Đó là cuộc chiến của con người để loại bỏ đi phần xấu phần “con” tiềm ẩn để vươn đến cái đẹp, vươn đến chân thiện mĩ trong cuộc sống. Và “Ánh trăng” của Nguyễn Duy là một minh chứng rõ nét nhất cho cuộc chiến khốc liệt ấy trong nội tâm sâu thẳm của mỗi con người. Cùng phân tích bài thơ Ánh trăng để cảm nhận nội dung sâu sắc của tác phẩm.

Giới thiệu Nguyễn Duy và bài thơ Ánh trăng

Trước khi tìm hiểu và phân tích bài thơ Ánh trăng, chúng ta cần nắm được những nét chính về tác giả cũng như tác phẩm.

Tìm hiểu về nhà thơ Nguyễn Duy

Nguyễn Duy tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm 1948 ở Thanh Hóa. Ông có một tuổi thơ lam lũ vất vả phải sống cùng với bà. Năm 1965, ông nhập ngũ và có mặt tại những chiến trường ác liệt nhất như Khe Sanh, đường chín Nam Lào. Sau đó, ông học khoa Ngữ Văn tại trường Đại học Tổng Hợp Hà Nội.

Từ năm 1977, ông là đại diện thường trú của báo Văn nghệ phía nam – thành phố Hồ Chí Minh. Nguyễn Duy sáng tác thơ từ rất sớm. Thơ ông luôn có sự kết hợp hài hòa nhuần nhị giữa chất trữ tình và chất thế sự, có phần ngang tàng nhưng vẫn nhiều chiêm nghiệm suy ngẫm. Thơ Nguyễn Duy có chút dung dị, hồn nhiên và trong sáng; ngôn ngữ thơ, hình tượng thơ sáng tạo, gợi cảm và rất đẹp, một vẻ đẹp chân quê.

Về sau, cảm xúc trữ tình trong thơ Nguyễn Duy ít nhiều pha màu sắc triết lí khá thâm trầm và đầy ấn tượng. Vào năm 1973, nhà thơ Nguyễn Duy được tặng giải Nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ. Một số bài thơ đặc sắc và tiêu biểu cho phong cách thơ của tác giả là “Tre Việt Nam”, “Hơi ấm ổ rơm”, “Giọt nước mắt và nụ cười”, “Bầu trời vuông”…

Đôi nét về bài thơ Ánh trăng

Khi phân tích bài thơ Ánh trăng, ta thấy tác phẩm này mang đậm dấu ấn thơ Nguyễn Duy, được in trong tập thơ cùng tên và được sáng tác năm 1978 tại thành phố Hồ Chí Minh. Bài thơ được viết theo thể thơ năm chữ, mang bóng dáng của một câu chuyện được kể theo trình tự thời gian từ quá khứ đến hiện đại, nhưng quá khứ ấy được hồi cố lại trong cái nhìn của hiện tại. Dòng cảm xúc trữ tình của nhà thơ cũng theo mạch tự sự mà bộc lộ.

Hình ảnh ánh trăng trong bài thơ vừa là hình ảnh cụ thể vừa mang tính khái quát cao. Ánh trăng đối với Nguyễn Duy không chỉ là ánh trăng tuyệt đẹp của thiên nhiên mà đó còn là ánh trăng của tình nghĩa, ánh trăng của sự thức tỉnh. “Ánh trăng” là lời ca ngợi vầng trăng tri kỉ của tuổi thơ, của người lính một thời trận mạc, đồng thời cũng gợi nhắc mọi người cần biết sống ân nghĩa thủy chung cũng như giữ trọn những đạo lí tốt đẹp.

Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy

Khi phân tích bài thơ Ánh trăng, người đọc nhận ra hình tượng này ở các thời điểm khác nhau, đó là ánh trăng của tuổi thơ, ánh trăng trong chiến trận và ánh trăng của thực tại.

Ánh trăng của quá khứ tuổi thơ và chiến tranh

Nguyễn Duy đã mở đầu bài thơ bằng hình ảnh của ánh trăng trong ký ức tuổi thơ cũng như sự gắn bó sẻ chia cùng con người khi chiến tranh.

“Hồi nhỏ sống với đồng

với sông rồi với biển

hồi chiến tranh ở rừng

vầng trăng thành tri kỷ”

Hình ảnh vầng trăng dường như được trải rộng ra trong cái không gian êm đềm và trong sáng của tuổi thơ. Hai câu thơ chỉ vỏn vẹn mười chữ nhưng dường như đã diễn tả đầy đủ sự vận động, quá trình trưởng thành của con người. Phân tích bài thơ Ánh trăng, người đọc nhận ra vầng trăng ở những dòng thơ này đã đại diện cho thiên nhiên hồn nhiên tươi sáng, là người bạn tri kỷ từ tuổi nhỏ cho đến “Hồi chiến tranh ở rừng”.

Xem thêm:  So sánh nhân vật Tràng và Chí Phèo – Văn học THPT

Trong giây phút thoáng qua, sự xuất hiện đột ngột của vầng trăng làm sống dậy biết bao nhiêu kí ức của tuổi thơ. Đó là những kí ức về những năm tháng gian lao, nhưng hồn nhiên, hình ảnh của thiên nhiên, đất nước bình dị và hiền hậu. Kí ức tuổi thơ của tác giả đẹp như một câu truyện cổ tích cùng bao kỉ niệm ngọt ngào. Ở đó, trăng là người bạn, trăng là tri kỉ, trăng nghĩa tình gắn bó với con người không bao giờ quên.

Những bước chân cứ lớn dần theo bước chân của đồng, sông, bể. Nhân vật trữ tình cũng thế mà lớn dần. Thời gian cũng cứ thế mà trôi đi. Rồi đến “hồi chiến tranh”, nhân vật trữ tình đi lính sống và chiến đấu chủ yếu ở núi, rừng. Giữa không gian ấy, tác giả không cô đơn, không cảm thấy lạnh lẽo bởi có sự xuất hiện của ánh trăng. Phân tích bài thơ Ánh trăng, ta thấy dù ở bất kì thời gian nào, bất kì không gian nào, vầng trăng cũng gắn bó cùng con người.

Khi phân tích bài thơ Ánh trăng, ta thấy hình tượng này như tô điểm thêm cho vẻ đẹp của thiên nhiên, dịu dàng đi vào tâm hồn nhà thơ. Ánh trăng xuất hiện trong những đêm đứng gác:

“Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo”

(Đồng chí – Chính Hữu)

Nhưng đêm trung thu trăng rằm phá cỗ:

“Mùa thu của em

Rước đèn họp bạn

Hội rằm tháng tám

Chị Hằng xuống xem.”

(Mùa thi của em – Quang Huy)

Hay những đêm trăng thơ mộng của tình yêu

“Đêm qua trăng sáng làu làu

Anh đi múc nước để hầu tưới cây

Tình cờ bắt gặp em đây

Mượn cắt cái áo, mượn may cái quần”

(Ca dao)

Quê hương của ký ức tuổi thơ ấy tuy khó khăn thiếu thốn đủ điều nhưng vẫn bừng lên tình nghĩa với vầng trăng. Sự gắn bó ấy đã được đắp xây qua bao thời gian.

“Trần trụi với thiên nhiên

hồn nhiên như cây cỏ

ngỡ không bao giờ quên

cái vầng trăng tình nghĩa”

Từ “trần trụi” cho ta cảm giác giữa vầng trăng và con người dường như không có bất cứ rào cản nào. Con người và thiên nhiên như đã hòa làm một. Con người trong những năm tháng ấy sống vô tư vô lo. Điều đó được thể hiện rõ nét qua cách so sánh “hồn nhiên như cây cỏ”.

Lúc ấy tác giả ngỡ như “không bao giờ quên” được nghĩa tình sâu nặng ấy. Không đơn thuần nói về quá khứ về kỷ niệm nghĩa tình mà còn ẩn chứa trong đó thái độ nghiêm túc xem xét pha lẫn nỗi ân hận day dứt trong lòng. Phân tích bài thơ Ánh trăng, ta thấy có biết bao nhiêu cảm xúc trong từ “ngỡ” ấy. Đó cũng là một điểm nhấn, một dấu hiệu đặc biệt. Nó gợi cho ta biết bao suy nghĩ về những điều chưa nói. Từ “ngỡ” như một lối rẽ đưa ý thơ theo hướng khác. Hóa ra tất cả mọi thứ chỉ còn trong ký ức, đang trôi dần trong quá khứ xa xăm.

Phân tích bài thơ Ánh trăng qua hình tượng ở thực tại

Chiến tranh qua đi, hòa bình lập lại cũng như bao người lính khác, nhân vật trữ tình cũng trở về cuộc sống thường nhật của mình. Nhưng không phải là về với sông với bể với vầng trăng nghĩa tình mà là trở về với thành phố tấp nập đông vui:

“Từ hồi về thành phố

quen ánh điện cửa gương

vầng trăng đi qua ngõ

như người dưng qua đường”

“Ánh điện, cửa gương” nơi thành phố phồn hoa đã vô tình làm cho vầng trăng tình nghĩa năm nào bỗng trở thành kẻ xa lạ. Hình ảnh nhân hóa độc đáo trong khổ thơ gợi cho người đọc suy nghĩ. Vì sao “vầng trăng đi qua ngõ” nhưng không ghé vào thăm người bạn xưa?

Khi phân tích bài thơ Ánh trăng, người đọc dễ dàng nhận thấy chính vầng trăng cũng muốn ghé vào thăm, nhưng người bạn năm nào giờ đây đã thay đổi, lạnh lùng, hững hờ nên vầng trăng chỉ đành “như người dưng qua đường”. Ánh trăng bị lu mờ bởi ánh đèn chiếu rọi. Mới ngày nào gắn bó giờ đây chỉ còn là “người dưng” không chút quen biết, không chút nhớ nhung dường như chưa từng bên cạnh nhau.

Xem thêm:  Đồng bằng sông Cửu Long: Vị trí, Điều kiện tự nhiên và Văn hóa-xã hội

Nguyễn Duy đã tạo ra sự đối lập giữa vầng trăng trong quá khứ và vầng trăng của hiện tại. Phải chăng cuộc sống hiện nghi hiện tại đã và đang làm cho tâm hồn mỗi chúng ta trở nên lạnh lùng hơn, đang dập tắt dần ngọn lửa tình nghĩa trong trái tim mỗi con người, đang biến những người bạn thủy chung năm xưa – trong đó có ta, trở thành kẻ vong ơn bội nghĩa.

“Thình lình đèn điện tắt

phòng buyn-đinh tối om

vội bật tung cửa sổ

đột ngột vầng trăng tròn”

Cuộc sống đầy những biến cố ngẫu nhiên, bất trắc. Và trong những biến cố bất trắc ấy, ánh sáng của quá khứ càng thêm sáng tỏ và soi rõ nỗi lòng con người. Thành phố bất ngờ mất điện. Không gian căn phòng chìm dần trong bóng tối bủa vây. Và chính lúc đó, vầng trăng tròn lung linh dịu dàng hiện ra. Cùng với ánh trăng là những kỷ niệm ngày xưa chợt ùa về đầy ắp trong tâm trí.

Các từ “thình lình”, “bất ngờ”, “vội” cho thấy được sự ngỡ ngàng đầy bàng hoàng của một cuộc tri ngộ không ngờ đến. Không chỉ là sự thay thế cho ánh sáng đèn điện mà ánh trăng còn là sự thức tỉnh và gợi nhớ quá khứ đã qua. Phân tích bài thơ Ánh trăng, người đọc nhận ra nhà thơ đang bồi hồi khi nhớ về quá khứ, nhớ lại quãng thời gian êm đềm được sống chan hòa giữa thiên nhiên bình dị, được gắn bó gần gũi hòa nhập vào khung cảnh thiên nhiên, được chung nhịp thở với đồng, bể, sông, rừng.

Hành động “vội bật tung cửa sổ” chứa đựng sự âu lo, thảng thốt. Vầng trăng tròn đâu phải chỉ vì đèn điện tắt. Trong quá trình phân tích bài thơ Ánh trăng, ta thấy hình tượng này cũng như những năm tháng ấy không hề mất đi chỉ có con người mãi chìm đắm trong ánh sáng đèn điện hôm nay mà lãng quên đi người bạn cố tri.

Chính vì vậy “đột ngột vầng trăng tròn” như một biến có một khám phá đầy bất ngờ – một bất ngờ quen thuộc đầy chua chát. Trong khổ thơ này, đó là một chuỗi cái biến cố hành động nối tiếp nhau. Nhưng nhờ những biến cố ấy, nhân vật trữ tình có cơ hội gác lại cuộc sống hiện tại để nhìn nhận lại quá khứ và để thức tỉnh. Miền ký ức xa xăm hiện về ngày càng rõ nét trong tâm trí nhà thơ.

“Ngửa mặt lên nhìn mặt

có cái gì rưng rưng

như là đồng là bể

như là sông là rừng”

Đó là một cái nhìn đầy áy náy xót xa “ngửa mặt lên nhìn mặt”. Con người đang đối diện cùng trăng, mặt đối mặt. Đối diện với mặt trăng hiền từ, nhân hậu của quá khứ nhưng tất cả chỉ lặng im. Mặt trăng im lặng nhìn con người thay đổi, nhìn con người trong giây phút tỉnh ngộ. Con người im lặng vì bất ngờ, vì xúc động và cũng bởi xấu hổ trước ánh trăng.

Khi phân tích bài thơ Ánh trăng, người đọc nhận thấy đây là một sự ngạc nhiên pha lẫn nỗi nghẹn ngào xúc động. Một cuộc hồi sinh từ kỷ niệm quá khứ êm đềm thơ mộng xen lẫn một nỗi dày vò, ray rứt của lương tâm trong thời khắc hiện tại. Mọi cảm xúc ấy được gói gọn trong hai từ “rưng rưng”. Đó là khi con tim quặn thắt, cảm xúc dâng cao trực trào nước mắt vì xót xa, vì ân hận.

Vầng trăng như đã kéo nhà thơ trở về với những phút giây đầy cảm xúc của quá khứ. Thì ra ranh giới giữa nhớ và quên thật mong manh. Những cảm xúc ấy dường như vẫn còn đó, chìm sâu vào tiềm thức của con người chỉ cần một sự gợi nhắc là sẽ được đánh thức và trở về nguyên vẹn.

Phải chăng con người khi gạt ngoài những tiện nghi vật chất thì mới để ý đến tình nghĩa năm xưa. Tất cả như những đợt sóng tâm trạng đang đổ dồn về phía nhà thơ. Để rồi khi phân tích bài thơ Ánh trăng, tác phẩm này đã kết thúc bằng một lời độc thoại nội tâm.

“Trăng cứ tròn vành vạnh

kể chi người vô tình

ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình”

Cho dù con người có vô tình nhưng trăng vẫn thế, vẫn “cứ tròn vành vạnh”. “Cứ tròn” nghĩa là đã tròn, vẫn tròn và đang tròn. “Tròn vành vạnh” thể hiện trạng thái tươi đẹp nhất của vầng trăng. Vượt qua thời gian đằng đẵng không gian mênh mông, vượt qua tất cả sự nhớ quên của con người, vầng trăng năm xưa không hề hao gầy vơi khuyết mà vẫn cứ tròn vẹn nghĩa tình.

Xem thêm:  Đại từ trong Tiếng Việt là gì? Cách phân loại và Ví dụ

Khi phân tích bài thơ Ánh trăng, người đọc nhận thấy tác giả Nguyễn Duy như muốn nhắc đến một triết lý sâu xa: Quá khứ mãi mãi vẫn ở đó vẫn vẹn nguyên tươi đẹp. Con người có thể lãng quên tất cả nhưng quá khứ vẫn luôn như vậy, ở đó dõi theo con người. Dù con người có thể quên đi quá khứ – nhưng không thể xóa đi quá khứ cùng biết bao hồi ức tháng năm… Quá khứ lặng yên không lên tiếng kết án con người. Nhưng chính sự im lặng, chính cái “im phăng phắc” đó của vầng trăng lại là lời nhắc nhở nghiêm khắc nhất “đủ cho ta giật mình”.

Khi phân tích bài thơ Ánh trăng, ta thấy cái giật mình ấy không phải ngẫu nhiên. Sự giật mình đôi khi làm người ta sợ hãi nhưng cũng có những cái giật mình khiến con người thức tỉnh. Cái giật mình làm sống dậy bao kỷ niệm để con người tự vấn lương tâm. Không có bất kỳ tòa án nào xét xử sự bội bạc của con người chỉ có duy nhất toà án của lương tâm.

Chính vì vậy, cái giật mình ấy là cái giật mình sâu thẳm của lương tâm con người. Tuy muộn màng nhưng điều đó rất đáng quý, giúp con người thanh lọc tâm hồn. Khi phân tích bài thơ Ánh trăng, ta thấy ý nghĩa triết lý sâu sắc của bài thơ nằm ở lời nhắc về thái độ của con người đối với những năm tháng quá khứ gian lao tình nghĩa, đối với thiên nhiên, đối với đất nước bình dị.

Đánh giá tác phẩm khi phân tích bài thơ Ánh trăng

Bài thơ Ánh trăng đã được Nguyễn Duy viết vào năm 1978 khi đất nước đã thoát khỏi đạn bom, con người sống trong cảnh hòa bình yên ổn. Nhà thơ đứng giữa hôm nay và suy ngẫm về một thời đã qua. Tiếng thơ của ông cũng là lời nhắc nhở, cảnh tỉnh đối với chúng ta.

Thực tế đã chứng minh, không phải ai trong chúng ta trong cuộc sống yên vui hôm nay còn nhớ về quá khứ gian nan nhưng anh dũng, về những nghĩa tình của một thời tưởng không bao giờ quên. Như nhà thơ Chế Lan Viên đã từng day dứt “Đôi khi sống trong ánh nắng chan hòa, người ta dễ quên đi cơn mộng dữ đêm qua”.

Kết bài: Phân tích bài thơ Ánh trăng đã chỉ rõ cho người đọc thấy rằng tác phẩm này không chỉ là những chiêm nghiệm sâu sắc về thái độ và tình cảm của con người đối với những hi sinh mất mát đã qua của thời chiến tranh, mà còn khơi gợi tình cảm con người về cội nguồn, về những người đã khuất. Sâu xa hơn, bài thơ còn là lời nhắc mỗi con người về lẽ sống thủy chung ân tình. “Ánh trăng” chính vì thế nằm trong mạch cảm xúc “uống nước nhớ nguồn”, gợi lên đạo lý sống ân tình đầy nhân đạo. Đó cũng là một nét đẹp trong bản sắc văn hóa dân tộc góp phần hình thành truyền thống tốt đẹp của mỗi con người Việt Nam.

Dàn ý phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy

Mở bài phân tích bài thơ Ánh trăng

  • Cách 1: Đi từ việc giới thiệu nhà thơ Nguyễn Duy và tác phẩm Ánh trăng.
  • Cách 2: Cuộc sống hiện đại cuốn con người sống gấp quên đi những nghĩa tình xưa. Từ đó đề cập đến nội dung tác phẩm.

Thân bài phân tích bài thơ Ánh trăng

  • Ánh trăng trong thời điểm quá khứ, ở tuổi thơ và trong giai đoạn chiến tranh.
  • Ánh trăng trở về với cuộc sống hiện tại, cuộc sống hòa bình.

Kết bài phân tích bài thơ Ánh trăng

  • Nhà thơ Nguyễn Duy khai thác tinh tế hình tượng nghệ thuật ánh trăng một cách độc đáo. Ánh trăng đã mang đến câu chuyện về lẽ sống ân tình và thủy chung.
  • Tác phẩm đã gợi lên trong lòng chúng ta nhiều suy ngẫm về cách sống và cách làm người, cũng như là lối sống ân tình ở đời chỉ qua những câu thơ thấm thía, sâu nặng.

Nguyễn Bùi Vợi đã từng nhận định về tác phẩm “Bài thơ nói về ánh trăng mà nói chuyện đời, chuyện tình nghĩa”. Với ý nghĩa sâu sắc và nhân văn, tác phẩm đã mượn đề tài thiên nhiên để nói tới suy ngẫm, chiêm nghiệm của nhà thơ về con người và cuộc đời. Hy vọng thông qua chủ đề phân tích bài thơ Ánh trăng, bài viết trên đây đã cung cấp cho bạn những kiến thức hữu ích phục vụ cho quá trình học tập. Chúc bạn luôn học tốt!

Theo 1meo.com

Loading...

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here