Phân tích 2 khổ thơ đầu bài Tràng giang của Huy Cận – Ngữ Văn 11

22

Phân tích 2 khổ thơ đầu bài Tràng giang, ta thấy vẻ đẹp của không gian rợn ngợp hòa quyện với nỗi sầu trải dài vô tận của thi nhân cùng với những nỗi niềm chất chứa đong đầy nơi trái tim của người thi sĩ. Trong bài viết dưới đây, hãy cùng 1meo.com tìm hiểu, cảm nhận và phân tích 2 khổ thơ đầu bài Tràng giang.

Mở bài: Phong trào Thơ mới đã đánh dấu một giai đoạn đầy chuyển biến của thi ca. Đó là thời kỳ nở rộ của nhiều tài năng văn học. Bên cạnh Thế Lữ – người tiên phong, Xuân Diệu – “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”, người ta còn nhớ đến Huy Cận – “một hồn thơ ảo não” (Hoài Thanh). Huy Cận đã đóng góp vào thơ ca một mối sầu nhân thế, một cái tôi cô đơn, buồn bã trước dòng đời. Với sự pha trộn giữa cổ điển và hiện đại, ông gửi gắm nỗi niềm ấy trong nhiều bài thơ, trong số đó phải kể đến “Tràng giang”. Có hai điều đọng lại sau khi đọc xong bài thơ này là không gian vô tận của ngoại cảnh và nỗi buồn. Nhưng vượt lên trên hết, bút pháp đặc trưng và nhuần nhuyễn giữa chất cổ điển và hiện đại đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên thật tươi đẹp, thể hiện rất rõ trong hai khổ thơ đầu của tác phẩm.

Giới thiệu về tác giả Huy Cận và tác phẩm Tràng Giang

Trước khi đi vào cảm nhận tác phẩm cũng như phân tích 2 khổ thơ đầu bài Tràng giang, ta cần nắm được những nét chính về tác giả cũng như tác phẩm.

Huy Cận (1919 – 2005) tên khai sinh là Cù Huy Cận, quê ở tỉnh Hà Tĩnh. Thuở nhỏ, Huy Cận học ở quê, rồi vào Huế học đến hết trung học. Sau đó, Huy Cận ra Hà Nội học và tích cực tham gia vào hoạt động của mặt trận Việt Minh.

Sau cách mạng tháng Tám, ông liên tục tham gia chính quyền cách mạng, giữ nhiều trọng trách khác nhau. Huy Cận là một trong những gương mặt tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại nói chung và là một trong những nhà thơ xuất sắc của phong trào thơ mới.

Huy Cận vừa yêu thương thơ Đường vừa chịu nhiều ảnh hưởng của văn học Pháp. Vì vậy, trong thơ ca của Huy Cận, ta bắt gặp một vẻ đẹp hài hòa giữa hiện đại và cổ điển. Một số tác phẩm tiêu biểu trước cách mạng tháng tám có thể kể đến Lửa thiêng, Kinh cầu tự, Vũ trụ ca…. Trong đó, tác phẩm đầu tay Lửa thiêng đã đánh dấu sự nở rộ của một tài năng văn chương.

Bài thơ Tràng giang mang đậm dấu ấn riêng của Huy Cận. Vào một buổi chiều mùa thu năm 1939, ông đứng ở bờ nam bến chèm. Bài thơ này được sáng tác trong nguồn cảm hứng của thi nhân trước con sông. Phân tích 2 khổ thơ đầu bài Tràng giang nói riêng hay toàn bộ tác phẩm nói chung, ta đều cảm nhận được cái tôi cô đơn lạc lõng với nỗi sầu vạn kỉ trước cảnh sông dài trời rộng của tác giả.

Chỉ với nhan đề và lời đề từ, tác giả đã thâu tóm trọn vẹn nội dung bài thơ. Nhan đề đã vẽ lên trước mắt một bức tranh thiên nhiên cổ kính, cổ điển với hai âm Hán – Việt vừa có ý nghĩa gợi mở, vừa tạo nên sự u buồn dai dẳng và nặng nề, cứ triền miên trong tâm thức của tác giả.

Tràng giang đọc chệch âm của “trường giang” là một từ Hán Việt ý chỉ con sông dài. Nhưng tác giả lại lấy “tràng giang” chứ không phải “trường giang” bởi vốn dĩ “trường giang” chỉ đơn thuần là sông dài nhưng “tràng giang” vừa nói con sông dài mênh mông, vừa nói lên tâm trạng, nỗi niềm của chính tác giả.

Khi phân tích 2 khổ thơ đầu bài Tràng giang, người đọc nhận thấy Huy Cận dường như muốn mở ra một không gian rộng lớn, mênh mông của dòng sông để đi sâu vào chiều dài, chiều sâu của lòng người. Đây là một dụng ý nghệ thuật tuyệt vời mang đến cho người đọc nhiều cảm xúc khác nhau. Vần “ang” đi liền với nhau làm cho con sông trong thơ bỗng trở nên dài rộng hơn, vĩnh hằng hơn trong tâm tưởng của người đọc.

Xem thêm:  Đới lạnh là gì? Vị trí và Đặc điểm của môi trường đới lạnh

Đó là con sông tự một thuở xa xưa nào đã từng chảy trên đất Việt qua nghìn năm lịch sử, nghìn năm văn hiến. Lời đề từ cũng hé mở bao điều “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Một câu thơ thể hiện âm điệu chủ đạo của lời đề từ là sự nhẹ nhàng, buồn man mác, buồn len lỏi vào trong tâm hồn của con người. Phân tích 2 khổ thơ đầu bài Tràng giang, ta thấy đó là nỗi sầu vạn kỉ thấm sâu vào trong mạch cảm xúc của bài thơ này.

Phân tích 2 khổ thơ đầu bài Tràng giang của Huy Cận

Nỗi buồn của con người trước dòng sông bao la vắng lặng

Khổ đầu của bằng thơ, tác giả đã vẽ ra một không gian rộng lớn mênh mông của sóng nước. Mở rộng cùng không gian rộng lớn là sự mở rộng về cảm xúc con người.

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng”

Mở đầu bằng hình ảnh sông nước mênh mông của“sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”. Tràng giang dài rộng đang trải ra từng đợt sóng điệp điệp không dứt.Động từ “gợn”: diễn tả làn sóng nhẹ nhàng có vẻ mong manh, mơ màng nhưng lại lan mãi không thôi. Nỗi buồn trải ra cùng các gợn sóng. Bao nhiêu gợn sóng là có bấy nhiêu nỗi buồn.

Từ “Điệp điệp” giàu giá trị vừa là hình ảnh vừa là tâm tư. “Điệp điệp” thường được dùng để miêu tả hình ảnh của núi nhưng ở đây tác giả lại sử dụng để miêu tả nỗi buồn. Tác giả đã biến nỗi buồn từ một khái niệm trừu tượng thành hữu hình, nó vừa gợi từng đợt sóng chồng chất, tầng tầng lớp lớp, vừa diễn tả điệp điệp nỗi sầu.

Khi phân tích 2 khổ thơ đầu bài Tràng giang, ta thấy sóng gợn là sóng nhẹ lăn tăn xao động, gợi cảm giác những vòm sóng như đang lan ra, xô đuổi nhau kéo đến tận chân trời. Tràng giang gợi liên tưởng đến trường giang. Nhưng ở từ trường giang mới chỉ dừng lại ở việc diễn tả độ dài của dòng sông thì tràng giang mức độ rộng mở của không gian còn được mở rộng theo cả chiều rộng. Phân tích 2 khổ thơ đầu bài Tràng giang, ta thấy cả không gian rộng lớn như lan tỏa hòa vào nhau, chiều kích không gian được mở ở biên độ cao nhất của chiều rộng và chiều dài.

Đồng thời hai vần ang nối tiếp nhau tạo được âm hưởng về một dòng sông rộng lớn bao la giữa trời đất khiến ta liên tưởng đến dòng sông trong thơ ca cổ điển

“Cô phàm viễn ảnh bích không tận

Duy kiến trường giang thiên tế lưu”

(Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng – Lý Bạch)

Từ láy điệp điệp thông thường điệp điệp được dùng để chỉ vật chất hoặc hình ảnh cụ thể nhưng ở câu thơ này lại được dùng chỉ tâm trạng của thi nhân. Đó là nỗi buồn liên tiếp vô cùng vô tận khôn nguôi tạo dư ba cho lời thơ. Dòng sông lớn mang trong mình nỗi buồn lớn. Âm hưởng gợi lên cái bát ngát mênh mông có phần cổ kính gần với thơ xưa

“Bất tận trường giang cổn cổn lai”

(Đăng cao – Đỗ Phủ)

“Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả”

Xem thêm:  Những nét chung về xã hội phong kiến – Bài 7 Lịch Sử 7

Hình ảnh thuyền xuôi mái được đặt cạnh hình ảnh nước song song khiến cho con thuyền như đang buông xuôi mặc cho dòng nước xô đẩy. Hay đây cũng chính là số phận con người bất lực, buông xuôi mặc dòng đời ngược xuôi. Thuyền về nước lại: hai sự vật vốn gắn bó với nhau nhưng dặt trong tương quan dòng thơ như tách biệt với nhau.

Phân tích 2 khổ thơ đầu bài Tràng giang, người đọc cảm nhận được sầu trăm ngả là nỗi buồn vốn là một khái niệm trừu tượng chỉ cảm xúc tâm trạng con người nhưng trong kết hợp độc đáo “sầu trăm ngả” nỗi buồn như có hình có khối. Nỗi sầu trăm ngả ấy là của “thuyền về” hay của “nước lại”. Nghệ thuật đối lập con thuyền – nước song song, thuyền về – nước lại: nhằm nhấn mạnh sự đối lập giữa cái bé nhỏ và cái rộng lớn, ngược chiều chia cắt. Từ đó gợi dự cảm về một nỗi buồn chia ly.

“Củi một cành khô lạc mấy dòng”

Để có được dòng thơ này tác giả đã phải trải qua 7 lần sửa chữa. Thông thường để diễn tả số phận con người, thi nhân sẽ dùng hình ảnh cái bèo. Nhưng hình ảnh cái bèo chỉ dừng lại ở việc gợi lên một cuộc đời trôi nổi bấp bênh vô định nhưng hình tượng cành củi ngoài những điều đó còn gợi được sự khô héo, thiếu sức sống.

Cách sắp xếp ngược với trật tự ngữ pháp thông thường đã tăng thêm sức biểu đạt, sức gợi của hình ảnh. Số phận con người nhỏ bé nay lại thiếu sức sống như một cành củi khô trôi nổi giữa dòng đời vô định không bờ bến. Cuộc đời vô hạn nhưng kiếp người lại ngắn ngủi hữu hạn, chớp mắt đã đến bên kia cái dốc của cuộc đời.

Với tấm lòng sầu tư ngắm nhìn cảnh ấy, nhà thơ cảm thấy nỗi buồn của mình cũng đang trải ra từng đợt điệp điệp, dòng sông gợi những xao xuyến trong lòng người. Nghệ thuật ẩn dụ đã khiến sóng sông hòa với sóng lòng, những đợt sóng trên sông triền miên, vô tận như hữu hình hóa những gợn buồn trong người, nhẹ nhàng mà mênh mang không dứt.

Phân tích 2 khổ thơ đầu bài Tràng giang, ta nhận ra nhà thơ thường ẩn đằng sau cái mênh mông sóng nước, không như các nhà thơ Mới thường thể hiện cái tôi của mình. Nhưng các thi nhân xưa tìm đến thiên nhiên để mong có thể hòa nhập, giao cảm, Huy Cận tìm về với thiên nhiên để thể hiện nỗi suy tư về biết kiếp người.

Hình ảnh về bến bờ quạnh vắng, cô đơn

Từ không gian rộng lớn bao la của sóng nước, tầm nhìn bắt đầu thu hẹp dần thành khung cảnh bến bờ. Nhưng vẫn nằm trong nỗi buồn sầu vắng miên man.

“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài trời rộng bến cô liêu”

Ở câu thơ đầu biện pháp đảo ngữ kết hợp với việc sử dụng từ láy lơ thơ càng tăng thêm sự ít ỏi cô đơn của cảnh vật. Bút pháp chấm phá đã diễn tả thành công không gian rộng lớn gợi lên nỗi buồn man mác thấm đẫm vào lòng người. Dòng thơ đa số là thanh bằng gợi một nhịp điệu nhẹ nhàng khiến ta có cảm tưởng tượng như một tiếng thở dài của đất trời.

Ở câu thơ “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều” vang lên như một thanh âm trong trẻo vang lên nhưng không phá tan đi sự cô đơn lạnh lẽo của bản nhạc buồn mà càng khắc họa thêm nỗi sầu nhân thế ấy. “Đâu” là đại từ phiếm chỉ khiến cho âm thanh tư xa vang vọng lại như thực lại như ảo.

Phân tích 2 khổ thơ đầu bài Tràng giang, ta thấy trong không gian bao la ấy, âm thanh vang lên không làm giảm sự cô quạnh mà càng làm tăng thêm sự vắng lặng. Đây là bút pháp lấy động tả tĩnh quen thuộc trong thơ ca trung đại như trong câu thơ

Xem thêm:  IELTS là gì? Tổng hợp một số điều cần biết về IELTS

“Cá đâu đớp động dưới chân bèo”

(Thu điếu – Nguyễn Khuyến)

“Làng xa” đã xác định không gian nguồn của âm thanh. Còn “Vãn chợ chiều” xác định thời gian. Âm thanh từ xa vang vọng lại không phải là tiếng cười nói xôn xao mà là âm thanh còn sót lại của một phiên chợ chiều đã tan người.

“Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài trời rộng bến cô liêu”

“Nắng xuống trời lên” sự di chuyển ngược hướng của hai đối tượng vốn gắn bó dường như cùng tồn tại trong một khoảng không khiến cho không gian được kéo giãn hết mức để tương ứng với sông dài trời rộng. Còn “sâu chót vót” là một kết hợp từ độc đáo sáng tạo của Huy Cận diễn tả được độ cao dường như đến vô tận, tác giả cảm nhận bầu trời dường như được phản chiếu qua dòng sông.

Mặt khác, sâu chót vót tương ứng với nắng xuống trời lên. Vì nắng xuống nên sâu vì trời lên nên chót vót. HÌnh ảnh “bến cô liêu” gợi sự đìu hiu vắng vẻ. Trước không gian ấy tâm trạng con người dường như cũng trở nên rộng mở, nỗi buồn dường như lan tỏa tràn ngập cả trời đất. Không chỉ là vòm trời phản chiếu vào lòng sông mà còn gợi lên nỗi buồn cô đơn không đáy của hồn người trước cái vũ trụ vô cùng.

Phân tích 2 khổ thơ đầu bài Tràng giang, ta thấy con người càng nhỏ bé cô đơn, bơ vơ giữa vũ trụ bao la. Hai câu thơ của Huy Cận mới đọc qua tưởng chừng chúng không có quan hệ gì với nhau bởi không gian địa lí và hình thức câu thơ. Nhưng thực ra chúng đều cộng hưởng với nhau để làm nổi bật lên cái cô đơn, lạnh giá, lụi tàn của những kiếp người.

Đánh giá tác phẩm khi phân tích 2 khổ thơ đầu bài Tràng giang

Bài thơ mang một nỗi buồn thấm đẫm vào cả không gian thời gian. Bức tranh thiên nhiên trong Tràng giang vừa có sự vận động, vừa hữu hình vừa vô hình, thời gian, không gian phụ họa, hài hòa với nhau khiến cho cảnh vật càng lúc càng âm u, xa vắng, xúc cảm càng nặng nề. Nỗi buồn của cảnh vật khiến cho lòng người càng thêm cô quạnh hay chính nỗi buồn của lòng người khiến cho không gian cũng nhuốm màu u ám.

Phân tích 2 khổ thơ đầu bài Tràng giang nói riêng hay toàn tác phẩm nói chung, ta thấy đó là nỗi sầu của người dân thuộc địa bị mất chủ quyền. Nỗi buồn ấy hòa vào cảnh vật vô biên hoang vắng tạo nên một nỗi buồn mênh mang thấm thía. Từ đó, ta thấy được tấm lòng tha thiết với cảnh vật thiên nhiên và tình yêu đất nước thầm kín của tác giả.

Kết bài: Bài thơ mở ra bằng một khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ nhưng cô quạnh và khép lại bằng một bức tranh đầy tâm trạng. Trong khung cảnh thiên nhiên rợn ngợp ấy, con người thật nhỏ bé, chỉ như một cánh chim lẻ loi giữa bầu trời rộng lớn, như một hạt cát giữa sa mạc mênh mông. Đứng trước khung cảnh ấy con người không thể không cảm thấy cô đơn cần tìm kiếm một điểm tựa. Không gian vừa thấm đẫm phong vị thơ Đường vừa mang những nét riêng của Huy Cận. Điều đó đã tạo nên vẻ đẹp cho bài thơ.

Bài viết trên đây đã giúp bạn bình giảng, cảm nhận và phân tích 2 khổ thơ đầu bài Tràng giang. Hy vọng những kiến thức trên sẽ hữu ích với bạn trong quá trình học tập. Chúc bạn luôn học tốt!

Theo 1meo.com

Loading...

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here